Thanh Hóa góp ý dự thảo Nghị định xử phạt về tiêu chuẩn đo lường chất lượng sát thực tế hơn
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, UBND các xã, phường nghiên cứu, góp ý đối với hồ sơ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 119/2017/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Để có thêm cơ sở từ thực tiễn quản lý tại địa phương, Sở Khoa học và Công nghệ đã gửi văn bản xin ý kiến các sở, ngành liên quan và UBND các xã, phường. Có 109 đơn vị tham gia góp ý; trong đó 83 đơn vị thống nhất với hồ sơ dự thảo và 26 đơn vị có ý kiến đề xuất cụ thể. Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến, Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu UBND tỉnh Thanh Hóa gửi ý kiến góp ý đến Bộ Khoa học và Công nghệ.
1. Từ thực tiễn để hoàn thiện quy định
Các ý kiến góp ý của Thanh Hóa tập trung vào những nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.
Một trong những vấn đề được quan tâm là cách xác định số tiền thu lợi bất hợp pháp trong lĩnh vực đo lường. Thực tế có trường hợp khi kiểm tra phát hiện phương tiện đo có sai lệch vượt quá giới hạn cho phép nhưng không có đầy đủ dữ liệu để xác định chính xác thời điểm bắt đầu vi phạm hoặc số lượng giao dịch đã thực hiện. Vì vậy, Thanh Hóa đề nghị dự thảo có hướng dẫn cụ thể hơn đối với những trường hợp thiếu dữ liệu, qua đó giúp cơ quan kiểm tra có căn cứ áp dụng thống nhất, tránh việc suy đoán hoặc xác định bất lợi cho tổ chức, cá nhân.
Đối với mức phạt vi phạm về kiểm định phương tiện đo nhóm 2, Thanh Hóa đề nghị nghiên cứu phân hóa mức phạt theo giá trị phương tiện đo, quy mô giao dịch hoặc tính chất của đối tượng vi phạm. Bởi trên thực tế, giá trị và quy mô sử dụng của các phương tiện đo nhóm 2 rất khác nhau. Chẳng hạn, một chiếc cân sử dụng trong hoạt động buôn bán nhỏ lẻ có giá trị chỉ vài trăm nghìn đồng, trong khi một cột đo xăng dầu có thể có giá trị hàng trăm triệu đồng. Việc áp dụng một khung phạt chung từ 120 đến 250 triệu đồng có thể chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt này.
Thanh Hóa cũng đề nghị làm rõ các tiêu chí xác định hành vi “thực hiện phép đo không đúng quy định làm ảnh hưởng đến kết quả xác định lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc nghĩa vụ thanh toán”. Việc có tiêu chí kỹ thuật cụ thể sẽ giúp cán bộ kiểm tra dễ xác định hành vi vi phạm, đồng thời bảo đảm tính chặt chẽ của hồ sơ xử lý.
2. Rõ hành vi, rõ trách nhiệm, tránh chồng chéo
Một số nội dung góp ý nhằm làm rõ cách hiểu và phân định các hành vi vi phạm.
Đối với hành vi “công bố tiêu chuẩn áp dụng không đúng sự thật”, Thanh Hóa đề nghị quy định rõ nội hàm của hành vi này. Trường hợp doanh nghiệp công bố một tiêu chuẩn có thật, thực tế có áp dụng tiêu chuẩn đó nhưng sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố thì cần được xác định là hành vi sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố, thay vì đồng nhất với hành vi công bố không đúng sự thật.
Đối với hàng đóng gói sẵn, Thanh Hóa đề nghị quy định rõ hơn cách xác định lô hàng, phần lô hàng và phạm vi đại diện của mẫu khi sử dụng kết quả kiểm tra mẫu để kết luận vi phạm. Đây là nội dung có ý nghĩa thực tế, bởi kết quả kiểm tra một mẫu chỉ có thể được áp dụng cho một phạm vi nhất định khi có căn cứ kỹ thuật rõ ràng.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng được đề nghị rà soát để tránh chồng chéo giữa các quy định về xử phạt hành vi ghi nhãn hàng hóa, bảo đảm một hành vi được xác định và xử lý theo một quy định rõ ràng, thống nhất.
3. Bảo đảm quy định phù hợp với mô hình quản lý thực tế
Một nội dung quan trọng khác là thẩm quyền xử phạt và lập biên bản vi phạm hành chính.
Thanh Hóa đề nghị bổ sung thẩm quyền xử phạt của Giám đốc các sở chuyên ngành được giao quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, như Sở Công Thương, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng… đối với các hành vi thuộc phạm vi quản lý được phân công.
Đồng thời, cần quy định rõ hơn người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính tại cấp tỉnh và cấp xã. Đặc biệt, đối với công chức thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, nên xác định rõ là công chức được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, thay vì quy định chung là “công chức thuộc Sở Khoa học và Công nghệ”.
Đối với cấp xã, khi Chủ tịch UBND cấp xã được giao thẩm quyền xử phạt thì cũng cần quy định rõ công chức được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực này có thẩm quyền lập biên bản trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Theo Thanh Hóa, việc quy định rõ ngay từ đầu sẽ giúp cơ sở chủ động hơn khi phát hiện và xử lý vi phạm.
4. Tạo điều kiện để doanh nghiệp thích ứng với các yêu cầu mới
Dự thảo Nghị định lần này đưa vào một số nhóm hành vi mới liên quan đến nhãn điện tử, truy xuất nguồn gốc, hộ chiếu số và quản lý dữ liệu. Đây là những nội dung gắn với quá trình chuyển đổi số và phương thức quản lý hiện đại trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Tuy nhiên, các yêu cầu mới cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có thời gian chuẩn bị về công nghệ, nhân lực và quy trình thực hiện. Vì vậy, Thanh Hóa đề nghị chỉ áp dụng xử phạt khi lộ trình, yêu cầu kỹ thuật và trách nhiệm của các bên đã được quy định đầy đủ, hệ thống đã vận hành ổn định; đồng thời cần có quy định chuyển tiếp phù hợp, nhất là đối với trường hợp lỗi phát sinh do hệ thống của cơ quan quản lý nhà nước chưa sẵn sàng hoặc yêu cầu kỹ thuật chưa đầy đủ.
5. Hướng tới quy định vừa chặt chẽ, vừa khả thi
Bên cạnh những nội dung cụ thể nêu trên, Thanh Hóa đề nghị tiếp tục rà soát mức xử phạt vi phạm hành chính theo hướng phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm và thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Một số mức phạt trong dự thảo được đánh giá còn khá cao so với tính chất của hành vi, nhất là những trường hợp chủ yếu liên quan đến việc chậm cập nhật, cập nhật chưa đầy đủ hoặc quản lý dữ liệu trên môi trường số. Việc điều chỉnh hợp lý sẽ góp phần bảo đảm tính khả thi của quy định, đồng thời tạo sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và điều kiện thực tế của tổ chức, doanh nghiệp.
Những ý kiến góp ý của Thanh Hóa được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ dự thảo và đặc biệt là từ thực tiễn triển khai công tác quản lý, kiểm tra tại địa phương. Đây cũng là cơ sở để các quy định khi được ban hành không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm mà còn rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện và phù hợp hơn với thực tế.
Thông qua việc tham gia góp ý, Thanh Hóa mong muốn góp phần cùng Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện dự thảo Nghị định, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong tình hình mới./.
Nguyễn Thị Phương - Phòng Quản lý Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng