Giới thiệu
Thông tin - Sự kiện
Quản lý KH&CN
Hoạt động KH&CN
Phát triển tiềm lực KH&CN
Thanh tra khoa học
Quản lý TC-ĐL-CL
KHCN thế giới
Phổ biến kiến thức KHCN
Các đơn vị sự nghiệp
Thủ tục hành chính
Hội chợ Tecmart
Các mẫu phiểu ĐT-DA
Chủ trương lớn về KH&CN
Cơ sở dữ liệu
TC - ĐL - CL
Dữ liệu đề tài dự án khoa học công nghệ
Tin KHCN địa phương
Website liên kết
Quảng cáo
 
Thứ bẩy, 25/10/2014 Trang chủ | Sơ đồ site | Liên hệ  
Một số công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt có thể ứng dụng tại Thanh Hoá  (30/11/2009)
  Xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoat đang là vấn đề bức xúc đối với các địa phương trong cả nước, đặc biệt là ở các đô thị, khu công nghiệp. Hiện tại hầu hết các địa phương đều sử dụng biện pháp chôn lấp chất thải với số lượng trung bình 1 bãi chôn lấp/1 đô thị, trong đó có tới 85 – 90% các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao bởi mùi và nước rỉ rác.

Cho đến nay, ngoài biện pháp chôn lấp, chỉ có một số địa phương đã và đang xây dựng các nhà máy xử lý rác thải, nhưng phần lớn sử dụng công nghệ nước ngoài chưa phù hợp với đặc điểm rác không được phân loại tại nguồn ở Việt Nam nên mới xử lý được chất hữu cơ. Tỷ lệ rác phải tiếp tục chôn lấp vẫn còn lớn và suất đầu tư cao. Hiện nay, công nghệ được nghiên cứu trong nước về xử lý rác thải như Seraphin, MBT-CD.08 mới được triển khai với 2 dự án ở TP. Sơn Tây (Hà Tây cũ) và TP. Huế (Thừa Thiên Huế) công suất 150 – 180 tấn rác/ngày. Trong khi ước tính lượng chất thải phát sinh trên toàn quốc khoảng hơn 15 triệu tấn/năm. Hiện tại, cả nước có trên 700 đô thị (từ loại V trở lên) và số lượng nhà máy xử lý rác cần đầu tư trong 5 năm tới khoảng hơn 60 nhà máy. Tổng vốn đầu tư của chương trình xây dựng, vận hành những nhà máy xử lý rác khoảng 5.250 tỷ đồng. Các dự án mới này sẽ được nghiên cứu, lựa chọn thí điểm từ mô hình, công nghệ đến các cơ chế tài chính, đất đai, cơ cấu vốn, tiêu thụ sản phẩm đầu ra ... từ đó tìm ra mô hình phù hợp để Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể về xử lý rác trên địa bàn cả nước.

Đối với Thanh Hóa, nhu cầu về thu gom, xử lý rác tại các huyện, thị, thành phố hiện nay rất lớn, trên thực tế chỉ mới thu gom xử lý được khoảng 30% trên tổng số rác thải ra hàng ngày. Toàn tỉnh có 35 thị trấn, 1 thành phố, 2 thị xã và khu kinh tế Nghi Sơn. Nếu mỗi đơn vị hành chính có ít nhất một bãi rác lớn thì cả tỉnh có 39 bãi rác và hàng trăm điểm trung chuyển cùng bãi rác nhỏ khác nằm rải rác. Các bãi rác lớn, nhỏ và các điểm trung chuyển chỉ làm nhiệm vụ chứa rác (chưa xử lý) thì sẽ gây ô nhiễm môi trường, bức xúc đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân.

Để xử lý rác thải, phương pháp đơn giản nhất là chôn rác, thế nhưng, với lượng rác ngày càng tăng, không dễ gì tìm được khu đất đủ rộng, phù hợp để chôn rác. Hơn nữa đem rác đi chôn là lãng phí, một việc làm bất đắc dĩ vì những hậu quả lâu dài của nó khó mà lường hết được như ô nhiễm nguồn nước do nước rác rò rỉ thấm xuống đất, phát sinh các khí độc hại, chi phí cao cho việc chống rò rỉ và xử lý khí thải...

Việc chọn công nghệ xử lý rác thải như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên những hậu quả xấu về môi trường trong tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc của các ngành chức năng. Đối với các khu, cụm tuyến dân cư như ở các xã, thị trấn trên địa bàn các huyện của tỉnh Thanh Hóa, việc lựa chọn mô hình xử lý rác cho phù hợp và ít tốn kém lại càng khó khăn hơn.

Gần đây, với sự tập trung nghiên cứu, một số công nghệ mới xử lý rác thải đạt hiệu quả cao đã ra đời. Tuỳ thuộc vào điều kiện và nhu cầu xử lý rác, mặt bằng xây dựng khu chứa và xử lý rác, vốn đầu tư, hình thức đầu tư, cách tổ chức quản lý, khai thác công trình xử lý rác thải mà mỗi nơi, mỗi huyện, thị xã, thành phố có thể vận dụng và lựa chọn công nghệ sau cho phù hợp với điều kiện hiện tại:

 

1.  Công nghệ lên men bằng hầm ủ tuynel, thổi khí cưỡng bức, xử lý khí thải

Ưu điểm:

+ Đảm bảo môi trường

+ Tiết kiệm quỹ đất so với phương pháp chôn lấp 80%

+ Chi phí đầu tư và vận hành hợp lý

+ Cung cấp phân bón hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp

Nhược điểm:

+ Đòi hỏi có thị trường tiêu thụ Compost và phân bón

Công nghệ lên men bằng hầm ủ tuynel ở các nhà máy xử lý rác Cầu Diễn, Việt Trì, Nam Định hiện đang hoạt động tốt, tuy nhiên, ở các nhà máy này chưa có hệ thống xử lý khí do hầm tuynel đang ở dạng hở. Hiện nay, xử lý khí thải, nước rỉ đã được khắc phục bằng công nghệ lên men bằng hầm ủ tuynel kín, thổi khí cưỡng bức và hồ sinh học.

 

1. Công nghệ xử lý nhiệt phân rác đô thị (Công nghệ Entropic) của Công ty Entropic Energy:

So với phương pháp chôn lấp và phương pháp đốt, phương pháp nhiệt phân với nhiệt độ thấp tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn như: cho ra sản phẩm chính là than tổng hợp có hàm lượng lưu huỳnh thấp có thể dùng làm nhiên liệu cho nhà máy nhiệt điện, quy trình xử lý đơn giản, vì xử lý trong nhiệt độ thấp (khoảng 500C) nên tránh được các nguy cơ phản ứng sinh ra chất độc hại và hiệu quả xử lý rất cao. Công ty Entropic Energy cũng đề xuất một mô hình nhà máy xử lý rác phù hợp với thành phố Hồ Chí Minh với công suất xử lý 6400 tấn rác/ngày, sản phẩm chín thu được là 1.500 tấn than tổng hợp, nếu xây dựng luôn một nhà máy phát điện kèm theo sử dụng hết chỗ than này thì sẽ cho ra một lượng điện năng là 150 MW/ngày. Ngoài ra, còn có nhiều sản phẩm phụ khác như nhiên liệu tái sinh, nước, khí hydro, dầu nặng, nhẹ .... Đây là một trong những công nghệ tiên tiến của thế giới trong việc xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, nhưng còn ở quy mô lớn và là một trong những mục tiêu áp dụng phát triển bền vững cho các đô thị đông dân cư. Công nghệ này chưa áp dụng được ở các khu, cụm tuyến dân cư quy mô vừa và nhỏ.

 

2. Xử lý rác thải theo phương pháp 3 R ( viết tắt từ tiếng Anh, 3R là Reduce/ Giảm thiểu – Reuse/Tái sử dụng – Recycle/Tái chế):

Hà Nội đang sử dụng và chính thức trở thành 1 trong 4 thành phố ở châu Á triển khai. Trong vòng 3 năm (từ năm 2007 – 2009), cơ quan phát triển Nhật Bản (JICA) sẽ tài trợ 3 triệu USD cho Hà Nội để thực hiện dự án tại 4 quận nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà trưng và Đống Đa, sau đó sẽ nhân rộng ra toàn thành phố. Theo tính toán của JICA, nếu thực hiện tốt mô hình 3R, mỗi tháng thành phố Hà Nội sẽ tiết kiệm được gần 4 tỷ đồng chi phí xử lý rác. Phương pháp thực hiện là rác sẽ được phân loại tại nguồn, rác vô cơ và rác hữu cơ được tách riêng và phấn đấu đến năm 2010 sẽ tận dụng được 30% rác. Những loại rác hữu cơ đã và đang được sử dụng làm phân bón. Các loại rác như nilon, bìa, giấy loại, nhựa... sẽ được tái chế dùng làm nguyên liệu. Còn các loại rác vô cơ khác được tái chế thành vật liệu xây dựng nhẹ cấp thấp dùng cho các công trình cảnh quan đô thị. Như vậy phần rác cần chôn lấp sẽ giảm đi.

    Trên thế giới, việc tái chế và tận dụng nhiều loại nguyên vật liệu từ rác đã được làm từ lâu, mang lại hiệu quả cả về mặt môi trường lẫn kinh tế. Tại các nước phát triển, mỗi gia đình đều tự giác phân loại rác thải thành hữu cơ, vô cơ và rác tái chế ...theo quy định nhằm thuận lợi cho việc tái chế và xử lý. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề tưởng chừng đơn giản này hầu như chưa được thực hiện.

 

3. Công nghệ MBT - CD. 08 Xử lý chất thải rắn thành nhiên liệu của Công ty TNHH Thuỷ lực Máy

Dây chuyền thiết bị công nghệ xử lý chất thải rắn thành nhiên liệu được nghiên cứu và chế tạo trong nước, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của Việt Nam chưa qua phân loại đầu nguồn, hạn chế chôn lấp. Sản phẩm là nhiên liệu được sử dụng trong dân dụng và công nghiệp.

Công nghệ MBT – CD.08 là một phương pháp đi từ thực tiễn với tính đặc thù rác thải Việt Nam. Được thiết kế từ các trải nghiệm thực tế của Công ty Thuỷ lực Máy trong chế tạo thiết bị và vận hành tại Huế, Vinh, Sơn Tây, Đồng Văn v.v...

Công nghệ MBT – CD.08 xử lý và tái chế 98% rác thải thành viên đốt (chất cháy được), thành viên gạch (chất không cháy). Do đó đơn giản khâu tách lọc, ứng dụng và kết hợp phương pháp cơ sinh học trong từng module thiết bị khép kín, kết nối thành dây chuyền công nghệ. Giảm số lượng công nhân tiếp xúc với rác. Thu hồi các phế liệu bán tái chế.

Công nghệ MBT – CD.08 hình thành theo xu thế biến rác thải thành nhiên liệu ở quy mô XLR vừa và nhỏ (bán nhiên liệu). Biến rác thành năng lượng ở các quy mô XLR lớn (phát điện).

Đây là một hướng công nghệ mới trong xử lý chất thải rắn, mang tính hiệu quả kinh tế xã hội cao. Tuy nhiên, chi phí đầu tư lớn, nhu cầu tiêu thụ điện cho sản xuất cao dẫn đến giá thành xử lý rác cao.

 

4. Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp yếm khí tuỳ nghi A.B.T  (Anoxy Biotechnology) của Công ty Công trình đô thị Ninh Thuận:

 

  Sơ đồ công nghệ:

 

   

  

 - Nguyên lý hoạt động:

Rác tại các điểm tập kết trong thành phố được xử lý mùi bằng chế phẩm sinh học, sau đó đưa vào hầm ủ, trước khi đưa rác vào hầm ủ phun chế phẩm sinh học và chất phụ gia sinh học. Rác tại các điểm tập kết đưa về sân xử lý không cần phân loại cho vào hầm ủ, quá trình thực hiện có phun chế phẩm sinh học, dùng bạt phủ kín hầm và ủ trong thời gian 28 ngày, trong thời gian ủ cứ 3 ngày mở bạt kiểm tra, phun bổ sung chế phẩm sinh học lên bề mặt. Sau 28 ngày ủ, đưa rác lên phân loại, rác phi hữu cơ chế biến riêng, mùn hữu cơ chế biến thành phân hữu cơ sinh học.

Đặc điểm công nghệ:

Ưu điểm:

- Tái chế các chất không phân huỷ thành những vật liệu có thể tái sử dụng được

- Không tốn đất chôn lấp chất thải rắn

- Không có nước rỉ rác và khí độc hại, khí dễ gây cháy nổ sinh ra trong quá trình phân huỷ hữu cơ do đó không gây ô nhiễm môi trường

- Không cần phân loại ban đầu do đó không làm ảnh hưởng đến công nhân lao động trực tiếp sản xuất

- Vận hành đơn giản, chi phí vận hành thường xuyên không cao.

Phạm vi áp dụng:

Có thể áp dụng xử lý rác cho nhiều quy mô công suất khác nhau, ở các khu vực nông thôn, thành thị. Khu xử lý có thể xây dựng không quá xa đô thị do không có nước rỉ rác và các khí độc hại thải ra.

Công nghệ xử lý rác yếm khí tuỳ nghi ABT có thể nâng công suất xử lý từ 5m3/ngày (2 tấn/ngày) lên 10m3/ngày (4 tấn/ngày) và có thể nâng lên xử lý 100m3/ngày (40tấn/ngày), tuỳ thuộc vào nhu cầu xử lý rác và điều kiện địa phương. Chi phí chuyển giao công nghệ không cao so với các công nghệ khác và có thể áp dụng cho việc xử lý rác tại các bãi chứa rác ở các xã, thị trấn cách xa bãi rác lớn tập trung của huyện thị.

Tuỳ trường hợp cụ thể mà mỗi huyện có thể lựa chọn công nghệ này hay công nghệ khác để xử lý rác thải. Tuy nhiên, dù chọn công nghệ nào cũng phải tuân thủ Luật đầu tư năm 2005; Nghị định số 108/2006/NĐ - CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số diều của Luật Đầu tư; Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chuyển giao công nghệ; Thông tư số 10/2009/TT – BKHCN hướng dẫn thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư  v.v...

 

Mai Văn Khoản - Sở KH&CN

 
Kế hoạch Số: 99/KH - UBND ngày 22 tháng 8 năm 2014 của UBND tỉnh Thanh Hóa   
Triển khai các quy định mới về minh bạch tài sản, thu nhập tại Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa   
HỘI NGHỊ HỌC TẬP, BỒI DƯỠNG CHUYÊN ĐỀ “HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM, CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN, NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM”   
Toàn văn nội dung Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.   
Chỉ thị về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh   
Nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá - Một số nội dung cần quan tâm   
50 năm Khoa học Việt Nam: Đã có nền 'Công nghệ', nhưng chưa đồng bộ và hiện đại   
Cần quan tâm đẩy mạnh công tác thống kê khoa học và công nghệ   
Công nghệ xử lý rác không cần phân loại   
KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NÔNG THÔN, MIỀN NÚI - BÀI HỌC TỪ THỰC TIỄN   
Xuất khẩu thiết bị khử mặn “Made in Vietnam”   
Giao dịch mua bán công nghệ quy mô lớn, hiệu quả cao   
KẾT QUẢ THAM GIA CHỢ CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ VIỆT NAM ASEAN + 3 CỦA TỈNH THANH HOÁ   
Từ kết quả triển khai dự án liên kết 4 nhà “sản xuất cá rô phi đơn tính” tại xã Hoằng Tiến   
Phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ giải pháp quan trọng để chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất của tỉnh Thanh Hoá   
 
Tìm kiếm
Thông báo
Thông báo về việc Thay đổi lịch thi và hình thức thi công chức năm 2014  (22/09/2014)
THÔNG BÁO CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THANH HÓA " Về việc đăng ký vay vốn với lãi xuất ưu đãi năm 2014"  (30/07/2014)
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH : HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH  (23/06/2014)
Mời các bạn tham gia Cuộc thi Sáng tạo Thanh - Thiếu niên và Nhi đồng toàn quốc lần thư 10 năm 2013-2014  (23/06/2014)
Kế hoạch Tổ chức chương trình " Hành trình đỏ - Kết nối dòng máu việt" lần thứ hai năm 2014  (04/06/2014)
Hướng dẫn đề xuất nhiệm vụ KH&CN năm 2015  (10/02/2014)
Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 09/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ  (06/09/2013)
THÔNG BÁO CỦA SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THANH HOÁ VỀ ĐĂNG KÝ THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KH&CN VÀ TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP  (22/06/2013)
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THANH HÓA THÔNG BÁO TUYỂN CHỌN ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ THỰC HIỆN DỰ ÁN TRONG 2 NĂM 2014-2015  (03/05/2013)
Hướng dẫn đề xuất các dự án thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2012-2015, tỉnh Thanh Hoá  (22/01/2013)
Tạp chí KHCN
Lịch khoa học
Văn bản pháp quy
Thủ tục hành chính
Ban biên tập Website
Số lượt truy cập


54.89.68.105
Quảng cáo
Sở Khoa học & Công nghệ Thanh Hóa
Địa chỉ: Số 17 Hạc Thành - Ba Đình - Thanh phố Thanh Hóa
Điện thoại: 037 3852 786; Fax: 037 3853 513; Email: khcn@thanhhoa.gov.vn;