Lịch sử phát triển
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THANH HÓA 55 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (23/07/2021)

 Cách đây 55 năm, giữa lúc cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang ở giai đoạn quyết liệt ngày 17 tháng 10 năm 1960 Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 1970 thành lập Ban Kỹ thuật tỉnh (tiền thân của Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa ngày nay) đặt nền móng cho sự hình thành, xây dựng và phát triển ngành Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh nhà.
Trong suốt chặng đường 55 năm xây dựng và phát triển, được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, với tinh thần đoàn kết, hăng say khoa học, lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH&CN của tỉnh nói chung và tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Sở KH&CN Thanh Hóa nói riêng, ngành KH&CN tỉnh Thanh Hóa đã không ngừng phát triển, đóng góp tích cực vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của cả nước trước đây, công cuộc đổi mới, xây dựng dựng quê hương, đất nước ngày nay.
       Quá trình xây dựng và phát triển, hoạt động của ngành KH&CN tỉnh Thanh Hóa trải qua các giai đoạn chính sau:
        1. Thời kỳ Ban Kỹ thuật, Ban Khoa học Kỹ thuật (1960 -1983)
      Theo Sắc lệnh số 016/SL, ngày 04/3/1959 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ủy ban Khoa học Nhà nước được thành lập. Gần 2 năm sau khi Ủy ban Khoa học Nhà nước thành lập, ngày 17/10/1960, Uỷ ban hành chính (UBHC) tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 1970 thành lập Ban Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa. Ban có 12 thành viên do đồng chí Nguyễn Trí Hữu - đại diện Tỉnh ủy và UBHC tỉnh làm Trưởng ban, đồng chí Ưng Định (Ty Nông nghiệp) và đồng chí Trần Đình Phò (Ty Công nghiệp) làm Phó ban; đồng chí Trần Đỉnh (Đài Khí tượng) làm Ban viên thường trực; các thành viên khác của Ban đều là cán bộ các ngành trong tỉnh và làm việc theo chế độ kiêm nhiệm; Ban có 3 cán bộ giúp việc. Đến tháng 11 / 1962, UBHC tỉnh bổ nhiệm đồng chí Phạm Đình Văn là thư ký khoa học kỹ thuật giữ chức Uỷ viên Thường trực. Hoạt động của Ban Kỹ thuật lúc này như một Hội đồng Khoa học.
      Sau 2 năm hoạt động, căn cứ Chỉ thị 320 -TTg ngày 15/12/1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định bổ sung tổ chức của Ban Kỹ thuật tỉnh và để đáp ứng nhu cầu mới về công tác KHKT của tỉnh, ngày 11/01/1963, UBHC tỉnh đã ban hành Quyết định số 93 - TCCB/TH đổi tên Ban Kỹ thuật thành Ban Khoa học Kỹ thuật (sau đây viết tắt là Ban). Ban có 17 thành viên do đồng chí Hoàng Văn Hiều - Phó Chủ tịch UBHC tỉnh làm Trưởng ban; các đồng chí Ưng Định và đồng chí Trần Đình Phò tiếp tục làm Phó ban. Đến tháng 8/1968, Chủ tịch UBHC tỉnh Thanh Hóa bổ nhiệm đồng chí Phạm Đình Văn giữ chức vụ Phó Trưởng ban. Ban có chức năng, nhiệm vụ chính là tổng hợp giúp UBHC tỉnh chỉ đạo công tác khoa học kỹ thuật (KHKT) và phong trào cải tiến kỹ thuật của quần chúng; điều hòa, phối hợp các ngành KHKT trong phạm vi thực hiện kế hoạch KHKT của tỉnh.
      Trong bối cảnh quân và dân tỉnh ta đang cùng với quân và dân miền Bắc vừa ra sức khôi phục kinh tế, bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đóng vai trò hậu phương vững chắc chi viện cho miền Nam, vừa chiến đấu chống cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc XHCN của đế quốc Mỹ, và mặc dù phải đi sơ tán (từ 1964-1972 sơ tán tại xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa) gặp không ít khó khăn về mọi phương diện, song với tinh thần vượt qua khó khăn, phương pháp hoạt động linh hoạt của đội ngũ cán bộ KHKT, chỉ trong thời gian ngắn đã xây dựng, hình thành được mạng lưới hoạt động KHKT rộng khắp từ tỉnh đến ngành, địa phương, đến cơ sở sản xuất và đã đạt được những kết quả rất khích lệ, đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 1961-1965 và 1966 -1970 của tỉnh, nổi bật là:
      Trong lĩnh vực nông nghiệp, tập trung vào nghiên cứu các biện pháp tăng năng suất cây trồng, vật nuôi chủ yếu trong tỉnh. Phong trào làm ruộng lọc giống phát triển mạnh. Chỉ trong năm 1963 từ 126 hợp tác xã nông nghiệp (vụ chiêm) đã tăng lên 1.881 hợp tác xã nông nghiệp (vụ mùa); phương pháp gieo mạ thưa, cấy nhỏ bụi đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt (tiết kiệm giống, năng suất cao) đã được áp dụng rộng rãi. Từ năm 1967, với việc du nhập thành công một số giống lúa mới và triển khai đồng bộ các giải pháp về thủy lợi, kỹ thuật canh tác đã tạo tiền đề cho việc chuyển dịch mùa vụ, tăng vụ: Từ hai vụ chiêm - mùa truyền thống đã chuyển dịch và tăng lên 3 vụ: chiêm xuân - hè thu - đông. Đây là kết quả có ý nghĩa to lớn cả về mặt KHKT, cả về kinh tế. Từ kết quả bước đầu này, năm 1969, tỉnh giao cho Ban KHKT tổ chức tổng kết công tác du nhập, đưa giống mới vào sản xuất và chỉ đạo nhân rộng. Nhiều hợp tác xã đã đạt năng suất 5 tấn thóc/ha; hai con lợn/hộ gia đình, góp phần đưa tổng sản lượng lương thực của tỉnh đạt 60 vạn tấn/năm, tăng nguồn thực phẩm cho tiêu dùng.
      Trong lĩnh vực công nghiệp, tập trung nghiên cứu cải tiến công cụ lao động phục vụ sản xuất nông- lâm nghiệp đặc biệt là công cụ làm đất: cày, bừa cải tiến, phương tiện vận tải; nghiên cứu hợp lý hóa sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật… theo hướng tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu, tìm nguyên liệu trong nước thay thế nguyên liệu nhập ngoại, sản xuất nhiều sản phẩm phục vụ đời sống nhân dân, phục vụ chiến đấu và chi viện cho miền Nam.
       Năm 1968, xuất phát từ yêu cầu sản xuất, vai trò, vị trí của cán bộ, Ban đã tham mưu đề xuất và được Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 21 NQ/TU về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ KHKT, nhờ vậy đội ngũ cán bộ KHKT phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Thời điểm này toàn tỉnh có: 10.475 cán bộ KHKT từ trung cấp trở lên.
       Năm 1973, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, năm 1975 đất nước thống nhất đã mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước. Hòa cùng không khí hăng say lao động của nhân dân cả tỉnh, công tác KHKT cũng chuyển mình bước vào thời kỳ mới. Từ nơi sơ tán (xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa) Ban KHKT đã chuyển về Thị xã Thanh Hóa, có trụ sở làm việc trong khuôn viên Văn phòng UBHC tỉnh. Công tác tổ chức được tăng cường: đồng chí Tôn Viết Nghiệm - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBHC tỉnh được giao kiêm chức Trưởng ban KHKT; đồng chí Trần Thanh Vân - nguyên là cán bộ Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước về Thanh Hóa công tác và được giao đảm nhiệm chức Phó Trưởng ban Thường trực (lần đầu tiên Ban KHKT tỉnh có Phó Trưởng ban thường trực chuyên trách). Trong điều kiện hết sức khó khăn về mọi mặt sau cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ: thiếu cán bộ (Ban còn có 10 người), cơ sở vật chất - kỹ thuật hầu như chưa có gì, Ban đã đề nghị và được Tỉnh ủy và UBHC tỉnh thống nhất chủ trương cho sắp xếp lại tổ chức, bổ sung biên chế; chuyển hướng hoạt động cho phù hợp với yêu cầu mới và được cấp kinh phí hoạt động như các ban ngành cấp tỉnh khác. Về chức năng nhiệm vụ, Ban là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBHC tỉnh, có con dấu và trụ sở riêng; cơ cấu tổ chức, có lãnh đạo Ban và 3 tổ chuyên môn: Tổ Hành chính Quản trị; Tổ Tổng hợp - Kế hoạch - Thông tin, sáng kiến; Tổ Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng (tuy là tổ chuyên môn nhưng thực chất các tổ này thực hiện chức năng, nhiệm vụ như một phòng chuyên môn). Về điều kiện làm việc, Ban được UBHC tỉnh giao cho đầu tư xây dựng trụ sở mới (địa điểm trụ sở hiện tại), quy mô diện tích 1800 m2 với đầy đủ phòng làm việc, phòng thí nghiệm (dụng cụ, thiết bị cả 3 lĩnh vực: cơ, lý, hóa được trang bị khá đầy đủ), thư viện…
       Căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao, xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất và  đời sống, Phòng Quản lý Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng được thành lập. Phần lớn các phương tiện đo (cân, ca, bình đong các loại) sử dụng trong hệ thống thương nghiệp được kiểm định định kỳ góp phần bảo đảm định lượng cho khách hàng. Tất cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân (lương thực, thực phẩm...) phục vụ sản xuất (hạt giống, phân bón…), các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu đều được kiểm tra chất lượng và xây dựng thành tiêu chuẩn địa phương, góp phần nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh cho đời sống, sản xuất và xuất khẩu. Những sai phạm trong lĩnh vực Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng (TĐC) đều đã được xử lý nghiêm minh. Hoạt động TĐC được tỉnh và dư luận nhân dân đánh giá là khách quan, vô tư, chuẩn mực và khoa học.
        Xuất phát từ thực tiễn: Thanh Hóa là một tỉnh lớn, đông dân, có đội ngũ cán bộ KHKT đông đảo và đa ngành nghề, Ban đã đề nghị và đã được Tỉnh ủy, UBHC tỉnh thống nhất chủ trương cho thành lập Hội đồng Khoa học cấp tỉnh và cho các ngành trong tỉnh bố trí cán bộ trực KHKT của ngành mình. Điều này một mặt thể hiện tính đa dạng, phức tạp về nội dung, một mặt thể hiện yêu cầu về chất của công tác KHKT. Trong thời kỳ này, nhiều đề tài KHKT được tổ chức thực hiện thành công: Nhân giống luồng bằng hom thân (Trạm Lâm nghiệp Lam Kinh); mía đồi (Nông trường Sao Vàng); nuôi cá lồng trên sông (Ty Công an), nuôi trồng thuỷ sản vùng triều nước lợ, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
        Đội ngũ cán bộ KHKT của tỉnh tiếp tục phát triển và trưởng thành. Toàn tỉnh đã có 15.245 cán bộ KHKT có trình độ từ trung cấp trở lên, riêng Ban KHKT đã có 40 cán bộ, trong đó có 4 trên tổng số 11 cán bộ trên đại học của toàn tỉnh.
Kết quả hoạt động KHKT của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian này thực sự là những bài học kinh nghiệm về tổ chức mạng lưới, về nghiên cứu lựa chọn xác định nội dung hoạt động, về cách tổ chức triển khai thực hiện các nội dung KHKT, đã trở thành một trong những căn cứ thực tiễn để năm 1983 Chính phủ có kết luận về việc củng cố, phát triển bộ máy tổ chức Ban KHKT các tỉnh trong cả nước (Trong lúc tổ chức bộ máy của một số Ban KHKT của các tỉnh có sự thay đổi lớn, thậm chí Ban KHKT của một số tỉnh, thành bị giải thể, nhưng một mặt do có sự chỉ đạo kịp thời của UBKHNN, sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBHC tỉnh đối với công tác KHKT, một mặt do tham mưu, đề xuất kịp thời của lãnh đạo Ban KHKT cho nên không những Ban KHKT Thanh Hóa không bị giải thể mà còn được ổn định trở lại và tiếp tục phát triển).
        Kết quả hoạt động KHKT trong thời gian này đã được Tỉnh uỷ đánh giá: “Công tác KHKT đã hướng vào việc phục vụ các nhiệm vụ kinh tế cấp bách, đã làm được nhiều việc có kết quả, có tác dụng đối với sản xuất và đời sống, góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị của tỉnh. Việc nghiên cứu thực nghiệm được xúc tiến, mang lại hiệu quả thiết thực. Công tác quản lý kỹ thuật có nhiều tiến bộ. Đội ngũ cán bộ KHKT phát triển khá” (Nghị quyết 06 NQ/TU, tháng 3/1979).
         Hoạt động KHKT của Thanh Hóa cũng được Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đánh giá cao. Thanh Hóa cùng với Thái Bình được Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chọn làm điểm chỉ đạo nhân rộng. Năm 1978, trong chuyến thăm và làm việc với Ban KHKT tỉnh, Đồng chí Lê Khắc - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã đánh giá: “Ban KHKT Thanh Hóa đã đi đúng hướng, bám sát nhiệm vụ chính trị của tỉnh và hoạt động có hiệu quả”. Ban đã vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến thăm và làm việc.
         2. Thời kỳ Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật (1983-1994)
       Căn cứ Nghị quyết số 51-HĐBT ngày 17/5/1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về công tác KHKT, xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của tỉnh, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 707 QĐ/TCUB ngày 05/8/1983 về việc kiện toàn hệ thống tổ chức khoa học trong tỉnh. Theo đó, Ban Khoa học Kỹ thuật được đổi tên thành Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT). Đồng chí Lê Văn Lục được cử giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban KH&KT (chuyên trách) đầu tiên của tỉnh. Ban có các phòng: Kế hoạch - Tổng hợp; Thông tin - Sáng kiến phổ biến KHKT; Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng; Kiểm định, kiểm nghiệm Cơ - Lý - Hoá và Văn phòng, với gần 80 cán bộ. Tháng 7/1984, UBND tỉnh ra Quyết thành lập Chi cục Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng (Quyết định số 894/QĐ-TCCQ ngày 10/7/1984) - đơn vị trực thuộc đầu tiên của Uỷ ban KH&KT trên cơ sở sáp nhập Phòng Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng và Phòng Kiểm định, Kiểm nghiệm Cơ - Lý - Hóa; đến tháng 8/1984 thành lập Trạm vật tư KHKT.
         Những thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động KH&KT của tỉnh giia đoạn 1983 -1994. Đây cũng là thời kỳ đất nước ta thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (1986). Hoạt động của Ngành trong giai đoạn này đạt những kết quả nổi bật sau:
        Hoạt động ứng dụng KHKT vào sản xuất và đời sống: Với chủ trương đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu KHKT vào sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, nhiều đề tài KHKT đã được thực hiện có kết quả, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh, đặc biệt là 3 chương trình kinh tế lớn của tỉnh: Chương trình lương thực - thực phẩm; Chương trình xuất khẩu và Chương trình hàng tiêu dùng.    
        Trong lĩnh vực nông nghiệp:
       Nhiều giống lúa, ngô mới được khảo nghiệm, tuyển chọn và áp dụng có kết quả vào sản xuất đại trà; Cây lạc, cây khoai lang phát triển mạnh. Đặc biệt là cây khoai tây và cây ngô đã thực sự đưa vụ đông thành vụ sản xuất chính, góp phần đưa tổng sản lượng lương thực từ 60 vạn tấn (1969) lên trên một triệu tấn (năm 1995). Trong chăn nuôi, đã tập trung nghiên cứu về thức ăn, giống và kỹ thuật chăm sóc, góp phần tích cực vào việc tăng sản lượng thịt lợn từ 26.500 tấn (1986) lên 31.983 tấn (1989). Chương trình Sind hóa đàn bò đã phát huy hiệu quả kinh tế trên quy mô lớn, ở cả miền xuôi và miền núi. Nuôi trồng thủy sản vùng triều ven biển được chú trọng. Từ chỗ chỉ lợi dụng vùng triều, cửa sông, cửa lạch để khai thác mang tính tự nhiên đã chuyển dần sang nuôi trồng có áp dụng KHKT mới về giống và kỹ thuật nuôi. Từ chỗ di ương đã sản xuất thành công giống tôm sú, từng bước làm chủ nguồn giống trên địa bàn tỉnh. Công nghệ chế biến tôm đông lạnh được áp dụng.
     Trong lĩnh vực công nghiệp: Đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng nhiều thành tựu KHKT, sản xuất nhiều mặt hàng mới phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Đáng chú ý là thuốc lá, giấy Caton sóng, kìm và etô xuất khẩu, quạt điện, phân bón các loại.
      Công tác điều tra cơ bản được quan tâm đúng mức: Với lợi thế được chọn tham gia “Chương trình nghiên cứu tài nguyên Việt Nam” (cấp Quốc gia), bên cạnh việc điều tra, bổ sung hoàn chỉnh tổng sơ đồ 70-01 còn tiến hành điều tra lập quy hoạch lấn biển Nga Sơn, Hậu Lộc; điều tra sông Lèn và hạ lưu sông Mã; điều tra hiện trạng rừng. Những kết quả điều tra này là cơ sở khoa học để lập quy hoạch khai thác sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, tài nguyên biển, bảo vệ môi trường là các thế mạnh của Thanh Hóa, đặc biệt là tổ chức lại nghề rừng, lập quy hoạch phát triển vốn rừng.
     Công tác Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng được đẩy mạnh: Phần lớn phương tiện đo (cân, đồng hồ đo nước, đồng hồ đo điện…) được kiểm định Nhà nước. Hàng năm, kiểm nghiệm hàng trăm mẫu sản phẩm, hànghóa ở cả các lĩnh vực cơ, lý, hóa, sinh đáp ứng cơ bản yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước, góp phần đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng.
      Tiềm lực KHKT được tăng cường: Đến cuối năm 1994, toàn tỉnh đã có 33.743 cán bộ KHKT có trình độ từ trung cấp trở lên (trong đó, có 25 tiến sĩ, 7.679 đại học và cao đẳng); có 30 trạm, trại, phòng phân tích kiểm nghiệm kỹ thuật (trong đó, có 14 trạm giống kỹ thuật, 6 phòng phân tích kiểm nghiệm).
       Hợp tác quốc tế về KHKT có bước đột phá: Từ năm 1984 - 1994 đã có 16 đoàn với 87 lượt cán bộ KHKT của tỉnh được đi tập huấn đào tạo, tham quan, học tập kinh nghiệm ở nước ngoài. Tỉnh cũng đã đón 5 đoàn cán bộ KHKT nước ngoài đến tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ… Đã có 2 dự án quốc tế về KH&CN tài trợ cho tỉnh: Dự án tăng cường thiết bị cho Chi cục TĐC do UNDP (Liên hợp Quốc) tài trợ; dự án tăng cường năng lực sản xuất tôm giống bằng phương pháp nhân tạo do Tổng cục nghề cá DETEK (Thái Lan) tài trợ.
        Hoạt động KHKT trong thời gian này, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết TW 2 (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được Tỉnh uỷ đánh giá: “Hoạt động KH&CN của tỉnh đã có bước phát triển mới về chất và đã góp phần nhất định trong sự phát triển KT-XH của tỉnh” (Thông báo số 122 - TB/TU ngày 16/8/2001 của Tỉnh ủy Thanh Hóa).
       3. Thời kỳ Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1994 - 2003) và Sở Khoa học và Công nghệ (2003 đến nay)
      Sau khi Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành lập (tháng 9/1992), trong bối cảnh đất nước tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới và chuẩn bị bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngày 13/01/1994, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 64/TC/UBTH thành lập Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường trên cơ sở tổ chức lại Uỷ ban KH&KT tỉnh. Theo Quyết định này, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, có chức năng quản lý nhà nước về Khoa học, Công nghệ và Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Sở có 04 phòng chuyên môn: Tổng hợp; Quản lý Khoa học, Công nghệ; Thông tin tư liệu- Sở hữu công nghiệp; Quản lý Môi trường và 01 đơn vị trực thuộc: Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Thanh Hóa. Đến tháng 10/1994, Thanh tra Sở được thành lập; tháng 5 /1998 thành lập Trung tâm Tư vấn chuyển giao Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Quyết định số 1002 QĐ/UB-TC, ngày 15/5/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh) và đến tháng 8 /1999 thành lập Trung tâm Nuôi cấy mô thực vật (Quyết định số 1762/QĐ -UB, ngày 31/8/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh).
     Để tập trung hơn cho các nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, khẳng định vị thế và vai trò của Ngành trong hoạt động khoa học và công nghệ, đóng góp tích cực cho phát triển KT-XH của tỉnh, thực hiện Quyết định số 45/2003/QĐ-TTg ngày 02/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 28/7/2003 UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 2441/2003/QĐ -UB đổi tên Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành Sở Khoa học và Công nghệ. Sở có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN; phát triển tiềm lực KH&CN; Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng; Sở hữu trí tuệ; An toàn bức xạ và hạt nhân (chức năng quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường chuyển sang Sở Tài nguyên và Môi trường).
     Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về KH&CN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là việc tạo bước chuyển mạnh mẽ đối với hoạt động KH&CN ở cơ sở, thực hiện Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV ngày 16/8/2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ, ngày 11/12/2008, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 4006/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về KH&CN thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện. Theo đó, ngoài quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN; Phát triển tiềm lực KH&CN; Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng; Sở hữu trí tuệ; An toàn bức xạ và hạt nhân, Sở KH&CN còn được giao thêm 2 lĩnh vực mới là ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ và các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Sở quản lý trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
     Về cơ cấu tổ chức, đến nay Sở có 08 phòng chuyên môn: Phòng Quản lý Khoa học, Phòng Quản lý Công nghệ, Phòng Quản lý KH&CN cơ sở, Phòng Quản lý chuyên ngành, Phòng Phát triển Tiềm lực KH&CN, Văn phòng, Tài chính - Kế hoạch và Thanh tra; 03 đơn vị trực thuộc (Chi cục Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng; Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển công nghệ sinh học và Trung tâm Thông tin - Ứng dụng- Chuyển giao KH&CN); Chi cục Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng có 01 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (Trung tâm dịch vụ kỹ thuật Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng).
     Với những thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy, cũng như chức năng, nhiệm vụ của Sở nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập, hoạt động KH&CN Thanh Hóa giai đoạn này đã có những bước tiến lớn, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng mà Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Khóa XV, XVI và XVII đã đề ra, cụ thể:
     Công tác tham mưu ban hành các văn bản để triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật về KH&CN trên địa bàn tỉnh
     Trong thời kỳ này, Sở KH&CN đã phối hợp với các ngành tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh ban hành nhiều chương trình, kế hoạch, đề án và quyết định quan trọng để triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật của TW về KH&CN trên địa bàn tỉnh, nổi bật là: Chương trình hành động của Tỉnh uỷ Thanh Hoá (số 16- CTr/TU ngày 25/4/1997) thực hiện Nghị quyết TW 2 (Khoá VIII); Kế hoạch hành động của UBND tỉnh Thanh Hóa (ban hành kèm theo Quyết định số 2388/QĐ-UBND ngày 10/7/2013 của UBND tỉnh Thanh Hóa) thực hiện Nghị quyết 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TW 6 (Khóa XI); Đề án phát triển KH&CN tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2001- 2005; 2006 - 2010 và 2011-2015; Các quyết định của UBND tỉnh Thanh Hóa quy định về xác định, tuyển chọn và giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện và nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN phù hợp với các văn bản pháp luật về KH&CN…
Các chương trình, kế hoạch, đề án và quy định trên đã cụ thể hoá các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về KH&CN thành những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp, từng ngành thực hiện. Trên cơ sở đó, các cấp các ngành đã tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện, góp phần phát huy vai trò của KH&CN là động lực phát triển KT-XH của tỉnh.
     Công tác quản lý KH&CN từng bước được tăng cường và đổi mới
     Hoạt động nghiên cứu triển khai được đổi mới cơ bản theo hướng mở rộng công khai dân chủ trong đề xuất nhiệm vụ KH&CN (mở rộng đối tượng và không hạn chế thời gian tham gia đề xuất các nhiệm vụ khoa học đến mọi tổ chức cá nhân). Đổi mới phương thức xác định nhiệm vụ KH&CN theo cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước nhằm tăng cường khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống. Trong đó, nhiệm vụ KH&CN được xác định trên cơ sở có ý kiến đề xuất đặt hàng của cơ quan, đơn vị sử dụng kết quả tạo ra khi nhiệm vụ KH&CN hoàn thành.
    Hoạt động KH&CN cấp huyện có nhiều chuyển biến tích cực. Mỗi huyện, thị xã, thành phố đều có 01 phòng chuyên môn được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN cấp huyện; có 1 cán bộ kiêm nhiệm công tác KH&CN. Cả 27/27 huyện, thị, thành phố đã có Hội đồng khoa học và công nghệ cấp huyện. Các huyện đã triển khai thực hiện nội dung quản lý nhà nước về KH&CN. Trong đó, tập trung vào tuyên truyền, phổ biến các văn bản trong lĩnh vực KH&CN, xây dựng các mô  hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều huyện ban hành quy chế hoạt động của Hội đồng khoa học; Vai trò, vị trí và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng khoa học được làm rõ và đi vào hoạt động từng bước có hiệu quả, góp phần tham mưu tư vấn trong lĩnh vực KH&CN cho UNBD cấp huyện. Tỉnh cũng đã tạo mọi điều kiện để cấp huyện và cán bộ KH&CN cấp huyện triển khai các nhiệm vụ KH&CN ngay trên địa bàn huyện, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương.
    Hoạt động đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ tuy còn khó khăn, nhưng bước đầu đã khẳng định được vai trò của công tác quản lý công nghệ trong hoạt động đầu tư phát triển của tỉnh, góp phần hạn chế chuyển giao công nghệ lạc hậu và cấm chuyển giao theo quy định. Từ năm 2001 đến nay, Sở KH&CN đã thẩm định công nghệ cho 137 dự án đầu tư. Phần lớn các dự án này sau khi được đầu tư đi vào hoạt động có hiệu quả. Hầu hết các công nghệ được thẩm định trong giai đoạn này đều đạt mức trung bình tiên tiến, có một số công nghệ hiện đại, có ứng dụng điều khiển tự động và bán tự động, kiểm soát và giám sát quy trình tự động hóa.
    Quản lý nhà nước về Sở hữu trí tuệ được quan tâm, đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả: Đã triển khai nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong tỉnh về xác lập quyền sở hữu công nghiệp; thường xuyên tổ chức tuyên truyền về Sở hữu trí tuệ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những năm gần đây, ngoài phối hợp với Liên hiệp các Hội KH&KT Thanh Hóa tổ chức các Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa và tham gia Giải thưởng sáng tạo KH&CN Việt Nam, phối hợp với Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh tổ chức hoạt động Hội đồng khoa học sáng kiến tỉnh Thanh Hóa, Sở KH&CN đã đưa hoạt động Hội đồng khoa học sáng kiến của Sở đi vào nền nếp, góp phần vào kết quả hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, đổi mới sáng tạo của cả tỉnh. Đặc biệt, nhằm phát triển tài sản trí tuệ của tỉnh, năm 2012, Sở KH&CN đã tham mưu và được UBND tỉnh phê duyệt “Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2012-2015 tỉnh Thanh Hóa”. Thông qua việc triển khai các dự án thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ (bao gồm cả TW và địa phương) đã và đang xây dựng và phát triển nhiều nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản địa phương. Tính đến nay, toàn tỉnh đã có 843 văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, có 03 chỉ dẫn địa lí: “Chiếu cói Nga Sơn”, “Mắm tôm Hậu Lộc” và “Bưởi Luận Văn”- huyện Thọ Xuân.
     Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
     Thời kỳ này, việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, triển khai thực nghiệm và ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống nhân dân luôn được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động KH&CN của tỉnh. Trong 20 năm qua, toàn tỉnh đã triển khai trên 640 nhiệm vụ KH&CN, chủ yếu tập trung vào các chương trình KH&CN trọng điểm thuộc Đề án phát triển KH&CN của tỉnh trong mỗi kỳ kế hoạch 5 năm.
     Trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp, đã tiếp nhận, làm chủ nhiều kỹ thuật tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ sinh học, tổ chức khảo nghiệm, tuyển chọn, phục tráng, lai tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất chất lượng cao, góp phần làm chuyển biến cơ bản chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản. Nhiều mô hình sản xuất tiên tiến đã được xây dựng, nhiều công nghệ, kỹ thuật tiến bộ đã được chuyển giao vào địa bàn, góp phần khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng nhanh năng suất, giá trị sản lượng nông sản, thực phẩm đặc biệt là bảo đảm an ninh lương thực (năm 2000 đạt 1,3 triệu tấn, đến nay đã đạt trên 1,7 triệu tấn/năm); thúc đẩy quá trình chuyển dịch đúng hướng cơ cấu kinh tế, lao động trong nông nghiệp - nông thôn (cơ cấu kinh tế nông, lâm, thủy sản trong GDP toàn tỉnh chuyển dịch tích cực, giảm từ 24,1% năm 2010 xuống 18,8% năm 2014 và dự kiến năm 2015 là 17,6%). 
      Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, đã tập trung nghiên cứu ứng dụng thành công nhiều công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu trong tỉnh, trong nước thay thế nguyên liệu nhập ngoại, góp phần nâng cao chất lượng hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm  hàng hoá sản xuất trên địa bàn. Những kết quả trên đã góp phần quan trọng đưa tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng; tăng tỷ trọng cơ cấu công nghiệp và xây dựng trong GDP  từ 26,6% năm 2000 lên 37,5% năm 2014.
     Trong lĩnh vực khoa học y dược, tập trung nghiên cứu ứng dụng nhiều kỹ thuật mới, hiện đại, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị; nghiên cứu, đánh giá thực trạng một số bệnh phổ biến trong cộng đồng; ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong công tác kế hoạch hóa gia đình, hạn chế tốc độ tăng dân số các vùng trong tỉnh; xây dựng mô hình các mô hình chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có hiệu quả (mô hình kết hợp quân dân y; can thiệp phòng và chống suy dinh dưỡng…); nghiên cứu ứng dụng KH&CN để phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn dược liệu sẵn có trong tỉnh; nghiên cứu sản xuất các loại thuốc đông dược (xây dựng quy trình sản xuất chế biến dược liệu theo quy trình kép kín) theo tiêu chuẩn GMP.
    Nhìn chung, kết quả nghiên cứu triển khai lĩnh vực y dược đã góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong phạm vi toàn tỉnh.
Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng, tổng kết thực tiễn ở một số lĩnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục đào tạo, an ninh, quốc phòng; cung cấp luận cứ khoa học để Tỉnh uỷ, UBND tỉnh ban hành các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh của tỉnh. Điển hình là: Nghị quyết 03/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp; Nghị quyết 10-NQ/TU của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ về phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2005-2010; Quy trình ban hành và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ để đưa nhanh Nghị quyết của đảng vào cuộc sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh; Nghị quyết nâng cao chất lượng đảng viên ở các tổ chức cơ sở Đảng thuộc Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa trong tình hình mới...
   Phát triển Tiềm lực KH&CN
   Trong thời kỳ này, tiềm lực KH&CN của tỉnh được tăng cường:
   Nhân lực KH&CN tăng nhanh. Đến nay, toàn tỉnh có trên 147,4 nghìn cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên (tăng gấp 3,3 lần so với năm 1999 và gấp 6,6 lần so với năm 1989). Trong đó, có 13 phó giáo sư; 168 tiến sỹ; trên 4,7 nghìn thạc sĩ và tương đương; gần 68,5 nghìn đại học.
   Hệ thống tổ chức KH&CN ngày càng phát triển. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 48 tổ chức KH&CN (năm 1996: 9 tổ chức ; năm 2006: 25 tổ chức). Trong đó, có 29 tổ chức KH&CN công lập và 19 tổ chức KH&CN ngoài công lập. Để có cơ sở cho việc định hướng hoạt động và đầu tư phát triển các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh, ngày 29/6/2015, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2397/QĐ-UBND phê duyệt “Quy hoạch phát triển các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”. Thanh Hóa cũng là tỉnh đầu tiên xây dựng quy hoạch phát triển các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh.
   Hệ thống doanh nghiệp KH&CN được hình thành. Mặc dù có nhiều khó khăn, song đến nay Thanh Hóa đã hình thành hệ thống doanh nghiệp KH&CN với 09 đơn vị, đứng thứ 3 toàn quốc (sau thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh).
     Nguồn lực tài chính đầu tư cho hoạt động KH&CN ngày càng tăng. Từ chỗ đầu tư dàn trải đã chuyển dần sang đầu tư có trọng điểm, mức đầu tư lớn. Mức đầu tư trung bình cho một nhiệm vụ KH&CN từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học (SNKH) tăng lên từ 158 triệu đồng (2001- 2005) lên 270 triệu đồng (2006-2010) và gần 460 triệu đồng (2011- 2015). Với chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực tài chính cho hoạt động KH&CN, bên cạnh nguồn kinh phí SNKH, kinh phí huy động từ các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác tham gia thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt là trong 15 năm trở lại đây (giai đoạn 2000 - 2005 chiếm 70% tổng kinh phí; 2006 - 2010, chiếm trên 75% tổng kinh phí và giai đoạn 2011- 2015 gần 78% tổng kinh phí).
Quỹ phát triển KH&CN Thanh Hoá: Được thành lập từ tháng 10/2006 (Quyết định số 3079/QĐ-UBND ngày 27/10/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh). Thanh Hóa là một trong những tỉnh đầu tiên của cả nước thành lập và triển khai hoạt động Quỹ. Tuy vốn của Quỹ còn chưa đáp ứng được so với nhu cầu, nhưng cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần hỗ trợ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.
     Đầu tư phát triển KH&CN: Ngoài nguồn vốn SNKH, những năm gần đây, Thanh Hóa đã sử dụng nguồn kinh phí đầu tư phát triển KH&CN từ ngân sách nhà nước để tăng cường tiềm lực KH&CN cho các tổ chức KH&CN của tỉnh với qui mô đầu tư ngày càng tăng (Bình quân giai đoạn 2001- 2005 gần 12 tỷ đồng/năm; 2006-2010 gần 15 tỷ đồng/năm; 2011-2015 trên 40 tỷ đồng/năm).
     An toàn bức xạ và  hạt nhân
     Hoạt động quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân được tăng cường, thường xuyên đôn đốc và hướng dẫn các cơ sở bức xạ thực hiện đúng quy định về đảm bảo an toàn bức xạ; hoạt động ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong sản xuất, kinh doanh được đẩy mạnh (Số cơ sở bức xạ tăng gấp 3 lần so với thời kỳ 1994-2003; Một số cơ sở đã đầu tư thêm nhiều thiết bị bức xạ hiện đại); Đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Chỉ thị nhằm tăng cường công tác quản lý an toàn bức xạ và hạt nhân trên địa bàn tỉnh; Định kỳ thanh tra, kiểm tra các cơ sở hoạt động bức xạ trong tỉnh; cấp phép hoạt động cho các cơ sở X - quang y tế; tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ cho các học viên là cán bộ quản lý và chuyên môn của các cơ sở X - quang y tế trong tỉnh. Nhằm chủ động ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân trên địa bàn tỉnh, Sở KH&CN đang tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân cấp tỉnh. Hiện nay, 100% cơ sở bức xạ, cơ sở có sử dụng nguồn phóng xạ được quản lý; 98% được cấp phép; an toàn bức xạ trên địa bàn tỉnh được đảm bảo; không xảy ra các vụ việc phức tạp về mất an toàn, an ninh nguồn bức xạ.
    Thông tin KH&CN và Thống kê KH&CN
    Hoạt động thông tin KH&CN được duy trì và ngày càng phát triển. Nổi bật là: Tờ thông tin KH&CN Thanh Hóa (4 số/năm), Lịch Khoa học (vạn tờ/năm), Tạp chí KH&CN truyền hình (12 số/năm). Đặc biệt, từ tháng 3/2009, Trang thông tin điện tử KH&CN Thanh Hóa (Website) đã ra đời và đi vào hoạt động ổn định, góp phần chuyển tải nhanh và kịp thời các thông tin KH&CN đến mọi người trên phạm vi rộng. Bên cạnh đó, nhằm thông tin, tuyên truyền, quảng bá thương hiệu, công nghệ và sản phẩm khoa học mới của tỉnh trên thị trường trong nước và quốc tế, những năm gần đây, Thanh Hóa tích cực tham gia các chợ công nghệ - thiết bị (Techmart), các hội chợ triển lãm các thành tựu kinh tế - kỹ thuật trong nước và khu vực, đạt nhiều kết quả, được Bộ KH&CN, UBND tỉnh đánh giá cao và tặng nhiều Bằng khen.
Công tác thống kê KH&CN được thực hiện và đi vào nền nếp từ năm 2007 trở lại đây và đạt một số kết quả, nổi bật là: Tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp về KH&CN theo quy định của Bộ KH&CN; triển khai nhiều cuộc điều tra thống kê KH&CN (Điều tra hội nhập quốc tế; Điều tra nghiên cứu và Phát triển và Điều tra Tiềm lực KH&CN…). Kết quả hoạt động thống kê KH&CN đã cung cấp cơ sở dữ liệu cơ bản về kết quả hoạt động KH&CN; Tiềm lực KH&CN; Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng; Sở hữu trí tuệ; An toàn bức xạ và hạt nhân đáp ứng yêu cầu quản lý
    Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng
    Quản lý Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng được tăng cường, năng lực kiểm định, kiểm nghiệm ngày càng được nâng cao (đã đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn VILAS); hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, áp dụng và công bố hợp chuẩn, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; theo dõi, đôn đốc và kiểm tra triển khai xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; tổ chức triển khai “Dự án nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2013-2015”; đẩy mạnh phong trào chất lượng trong các doanh nghiệp và tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia Giải thưởng chất lượng Quốc gia. Đến nay, Thanh Hoá đã có 87 lượt doanh nghiệp tham dự giải và đã có 11 doanh nghiệp được tặng giải Vàng, 73 lượt doanh nghiệp đạt giải Bạc; Tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về đo lường đối với các phương tiện đo và hàng đóng gói sẵn và chất lượng sản phẩm, hàng hóa: Tổ chức thực hiện kiểm định định kỳ phương tiện đo cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong toàn tỉnh; duy trì các trạm cân đối chứng tại các chợ trung tâm huyện; tăng cường các biện pháp quản lý phương tiện đo trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, hạn chế thấp nhất số lượng các cột đo xăng dầu hoạt động không đảm bảo kỹ thuật và hiện tượng gian lận đo lường, góp phần tạo nên sự văn minh trong thương mại, tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
       Hoạt động thanh tra KH&CN
      Hoạt động thanh tra KH&CN đã có những đóng góp đáng kể, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, góp phần ngăn chặn các vi phạm trên lĩnh vực KH&CN. Hơn 20 năm qua, kể từ khi thành lập, Thanh tra Sở đã tiến hành thanh tra gần 3 nghìn lượt cơ sở về các lĩnh vực: Bảo vệ môi trường (từ 1994 - 2003); Đo lường, chất lượng; KH&CN; Sở hữu trí tuệ; An toàn bức xạ và hạt nhân. Đặc biệt, đã chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng trong tỉnh: Quản lý thị trường; Công an; Y tế; NN&PTNT tổ chức hàng chục cuộc thanh tra diện rộng, chuyên đề về  Bảo vệ môi trường, Đo lường, Chất lượng, Sở hữu trí tuệ theo chỉ đạo của Bộ KH&CN và kế hoạch của UBND tỉnh đạt kết quả, được các ngành đánh giá cao và được Bộ KH&CN và UBND tỉnh tặng nhiều Bằng khen.
       Hoạt động các đơn vị sự nghiệp
      Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển công nghệ sinh học (thành lập năm 2014 trên cơ sở Trung tâm Nuôi cấy mô Thực vật Thanh Hóa), Trung tâm Thông tin- Ứng dụng - Chuyển giao KH&CN (thành lập năm 2010 trên cơ sở Trung tâm Tư vấn, Chuyển giao khoa hoc và công nghệ) trực thuộc Sở và Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (thành lập năm 2010) trực thuộc Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Thanh Hóa là các tổ chức KH&CN. Kết quả hoạt động của các đơn vị này trong thời gian qua đã góp phần tích cực vào thành tích của ngành KH&CN Thanh Hóa nói chung và Sở KH&CN nói riêng.
     Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển công nghệ sinh học: Đã tổ chức thực hiện thành công nhiều đề tài, dự án trong lĩnh vực công nghệ sinh học, đặc biệt là nghiên cứu, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô thực vật phục tráng và nhân nhanh nhiều loại giống cây trồng có chất lượng cung cấp cho sản xuất đại trà trong tỉnh.
     Trung tâm Thông tin- Ứng dụng - Chuyển giao KH&CN: Bên cạnh hoạt động tham gia các Hội chợ triển lãm kinh tế - kỹ thuật; chợ công nghệ và thiết bị (Techmart); cung cấp các thông tin về công nghệ mới, kỹ thuật tiến bộ và kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất và đời sống; Tư vấn, dịch vụ về môi trường, an toàn bức xạ hạt nhân, Trung tâm đã thực hiện thành công nhiều nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước và cấp tỉnh.
      Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng được thành lập là bước tiến lớn về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về Tiêu chuẩn, Đo lường và Chất lượng tại Thanh Hóa, phù hợp với chủ trương chung của Nhà nước là phân định rõ về mặt tổ chức giữa hai loại hình hoạt động: Quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp. Trung tâm đã thực hiện kiểm định, kiểm nghiệm phục vụ các cơ sở sản xuất, kinh doanh và công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh đảm bảo chính xác, kịp thời; tư vấn cho 71 cơ quan hành chính Nhà nước trong tỉnh xây dựng, áp dụng HTQLCL ISO 9001 : 2008.
     Những kết quả trên là thành tích rất đáng tự hào của tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động Sở KH&CN Thanh Hóa và đội ngũ cán bộ KH&CN của tỉnh qua các thế hệ.
      55 năm qua, KH&CN Thanh Hoá đã từng bước phấn đấu và trưởng thành. Sự phát triển từ Ban Kỹ thuật tỉnh đến Sở KH&CN ngày nay là quá trình vừa hình thành, vừa xây dựng và tiếp tục hoàn thiện: Nhận thức về nội dung và trách nhiệm quản lý KH&CN ngày càng được nâng cao, hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN đã phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng và ngày càng có hiệu quả to lớn, thiết thực đối với sản xuất và đời sống. Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu bền bỉ, lâu dài của tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức và người lao động Sở KH&CN Thanh Hoá và đội ngũ cán bộ KH&CN của  tỉnh trong suốt chặng đường hơn nửa thế kỷ qua.
     Với những thành tích xuất sắc trong suốt quá trình hoạt động, Sở KH&CN Thanh Hóa đã vinh dự được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Ba, Hạng Nhì và Hạng Nhất. Tự hào với truyền thống lịch sử 55 năm  xây dựng và phát triển, tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh, toàn ngành KH&CN Thanh Hóa quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách, phát huy vị trí, vai trò của KH&CN thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà./.
 
In tin   
 Rss Reader
Nhiều loài chim hót chỉ 'một bài' suốt triệu năm, vì sao?
TTO - Với cộng đồng chúng ta, chỉ cần 10 năm trôi qua là biết bao trào lưu âm nhạc mới ra đời. Trái lại, một số loài chim lại thích hát đi, hát lại cùng một 'bản nhạc' từ hàng ngàn đến triệu năm.
Wed, 19 Jan 2022 18:36:10 GMT+7
'Tò mò' - bí quyết của các bộ óc siêu việt nhất thế giới
Theo các chuyên gia, cuộc giao lưu với Hội đồng Giải thưởng và Hội đồng sơ khảo VinFuture vừa qua là cơ hội hiếm có cho các nhà nghiên cứu trẻ của Việt Nam.
Wed, 19 Jan 2022 18:00:00 GMT+7
Ô nhiễm, nhiệt độ tăng làm giảm khả năng thụ thai, tăng sinh non
TTO - Hàng loạt nghiên cứu mới nhất cho biết hiện tượng nóng lên toàn cầu và ô nhiễm không khí đang gây ra nhiều ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe của phụ nữ có thai, thai nhi và trẻ sơ sinh trên toàn thế giới.
Wed, 19 Jan 2022 16:54:49 GMT+7
2/3 núi lửa trên toàn cầu nằm dưới biển sâu, có sức hủy diệt lớn nếu phun trào
TTO - Ông Christoph Helo, nhà núi lửa học tại Đại học Mainz (Đức), cho biết có 2/3 núi lửa trên toàn cầu hoạt động dưới biển sâu. Khi những núi lửa này phun trào sẽ như một nồi áp suất nổ bung, tạo sức hủy diệt lớn.
Wed, 19 Jan 2022 15:59:32 GMT+7
Sứ mệnh của VinFuture đã chạm vào trái tim con người
'Hiếm thấy một giải thưởng nào có thể ghi nhận công sức của các nhà khoa học từ khâu lên ý tưởng đến hiện thực hóa, trở thành các công trình có thể tác động tới hàng triệu người như VinFuture', GS Albert P. Pisano chia sẻ tại buổi giao lưu vừa qua.
Wed, 19 Jan 2022 15:00:00 GMT+7
1 2 3 4 5 6
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH THANH HÓA
Địa chỉ: 17 Hạc Thành, P Ba Đình, Thành phố Thanh Hoá, Điện thoại: 02376.256.168; Fax: 02376.256.157
Tổng biên tập: TS. Nguyễn Ngọc Túy - Giám đốc Sở

Cổng thông tin được xây dựng bởi: Công ty Công nghệ Lam Kinh